LTS: Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ xin giới thiệu bài viết tổng quan về sự nghiệp trước tác của Giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh, 1936 - 2023, một học giả nổi tiếng thời VNCH và có ảnh hưởng lớn đến giới nghiên cứu quốc tế về lịch sử Việt Nam. Bài viết do GS. Trần Anh Tuấn, cựu giáo sư Ban Sử Học, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn (1972-1975), chấp bút.
Trần Anh Tuấn
Giáo sư Nguyễn Thế Anh tốt nghiệp đại học Paris-Sorbonne với các văn bằng Thạc Sĩ Sử (1963), Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (1964), và Tiến Sĩ Quốc Gia Pháp (1987).
Năm 1964 ông hồi hương về giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Huế và Đại Học Cần Thơ. Ông làm Viện Trưởng Viện Đại Học Huế hai niên khóa (1966-68) rồi trở lại Sài Gòn làm Trưởng Ban Sử Học, Đại học Văn Khoa cho đến ngày thứ ba 22.4.1975 ông từ Tân Sơn Nhất lên đường di tản.
Từ năm 1965 đến năm 2014, giáo sư Nguyễn Thế Anh đã hoàn tất 20 sử phẩm ấn hành tại Việt Nam Cộng Hòa và Pháp, 159 chuyên luận trong các tạp chí chuyên môn và giới thiệu sách tại 13 quốc gia bao gồm Việt Nam, Pháp, Mỹ, Anh, Ý, La Mã, Đức, Nga, Úc, Nhật, Ðại Hàn, Mã Lai Á, và Singapore. Các công trình này được hoàn thành qua bẩy ngôn ngữ khác nhau, là Việt, Pháp, Anh, Ý, Nga, Nhật, và Mã Lai.
Khối óc giáo sư Nguyễn Thế Anh là sự hội tụ của hai khả năng phân tích và tổng hợp nhuần nhuyễn một cách tự nhiên. Sự thông thái và khúc chiết của ông lộ rõ khi ông khai thác một tài liệu sử. Những ai may mắn thụ giáo với ông đều giữ trong lòng cái ấn tượng của sự thông thái và sự khúc chiết ấy, đồng thời cũng là sự… khó khăn khi tiếp xúc!
Cuộc đời dạy học của ông bao gồm những trường đại học nổi tiếng tại Việt Nam như Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn, tại Hoa Kỳ như Ðại Học Harvard, và tại Pháp như Ðại Học Sorbonne. Ông đào tạo biết bao cử nhân, cao học, và tiến sĩ Sử Học cho Việt Nam và nhất là cho thế giới.
Năm 2008 khi giáo sư Nguyễn Thế Anh về hưu tại Pháp thì một số cựu đồng nghiệp và cựu môn sinh thuộc nhiều quốc tịch đã tôn vinh ông theo truyền thống của các viện đại học Âu châu, Mỹ Châu, và cả Á Châu nữa. Ðó là xuất bản một tuyển tập trong đó mỗi người đóng góp một chuyên luận liên hệ đến đương sự.
Tuyển tập tôn vinh giáo sư Nguyễn Thế Anh có tựa đề Monde du Viet Nam. Vietnam World. Hommage à Nguyên Thê Anh do hai học giả Pháp (Frédéric Mantienne) và Mỹ (Keith W. Taylor) chủ biên. Sách dầy 541 trang do nhà xuất bản Les Indes Savantes ở Pháp ấn hành năm 2008.
Ðây là sự kiện đầu tiên và duy nhất trong lịch sử sử học xưa nay mà một sử gia gốc Việt được giới sử gia thế giới tôn kính và ca tụng. Nói thế giới vì những người góp bài trong tuyển tập vinh danh mang nhiều quốc tịch, là Pháp, Mỹ, Anh, Hung Gia Lợi, Nhật, Tàu, Ðại Hàn, Mã Lai Á, và một số sử gia gốc Việt tại Pháp, Mỹ, và Canada. Danh sách 22 tác giả xếp theo thứ tự tên gọi là Alain Forest, Andrew Hardy, Le Huu Khoa, Philippe Langlet, Thanh Tam Langlet, Bruce M. Lockhart, Frédéric Mantienne, Patrice Morlat, Philippe Papin, Emmanuel Poisson, Claudine Salmon, Masaya Shiraishi, Vinh Sinh, Francois Souty, Keith W. Taylor, Trinh Van Thao, Patrick Tuck, Léon Vandermeersch, Gábor Vargyas, Geoff Wade, Danny Wong Tze-Ken, và Insun Yu.
Alain Forest, giáo sư lão thành tại đại học Paris VII, có bài viết tựa đề De l’extention ou de la contraction des territoires (Vietnam et Cambodge) (tr. 315-327) như cách vinh danh một đồng nghiệp sau lời tựa tuyệt vời -nguyên văn: “son excellent avant-propos” của giáo sư Nguyễn Thế Anh về tác phẩm Le Dai Viet et ses Voisins do Bùi Quang Tung và Nguyên Hương dịch (Paris, nxb L’Harmattan, 1990).
Andrew Hardy góp phần vinh danh giáo sư Nguyễn Thế Anh qua thiên nghiên cứu về cộng đồng người Việt tại Thái Lan, tựa đề People in-between; Exile and memory among the Vietnamese in Thailand. Research note (tr. 271- 293). Andrew Hardy là một cựu môn sinh của giáo sư Nguyễn Thế Anh và từng là Giám Ðốc EFEO tại Hà Nội.
Le Huu Khoa đóng góp bài Bouddhisme, Confucianisme, Taoisme : À propos de l’autorité (tr. 447- 468). Chuyên luận này chính là quan điểm của tác giả về vấn đề mà cả hai quan tâm. Le Huu Khoa là giáo sư đại học Lille, Pháp.
Philippe Langlet là đồng nghiệp với giáo sư Nguyễn Thế Anh từ Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn. Ông đóng góp một bài chuyên luận trong chuyên môn quen thuộc của ông, là dịch và phân tích sử liệu triều Nguyễn, đầu đề Lecture de deux rapports dans les archives du règne Tự Ðức (1868) (tr. 197-243). Giáo sư Langlet người hiền lành, làm việc chăm chỉ và chắc chắn nhưng không được cuốn hút hay hào hứng. Ông chính là vị giám khảo chấm thi Năm Thứ Nhất Tiến Sĩ Chuyên Khoa Sử Học niên khóa 1972-73 mà 5 trong số 7 thí sinh bị trượt. Dĩ nhiên kết quả kỳ thi phải được giáo sư Chánh Chủ Khảo duyệt trước khi niêm yết. Và vì thế mà ông Chánh Chủ Khảo Nguyễn Thế Anh bị vạ lây, bị lên án tử hình!
Thanh Tam Langlet cũng là giáo sư đồng nghiệp với giáo sư Nguyễn Thế Anh từ Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975, tức giáo sư Quách Thanh Tâm. Chuyên luận của bà có tên Littérature ancienne du Vietnam. Approche de la pensée bouddhiste dans les écrits des moines de l’époque Lý-Trần, Xe-XIVe Siècle (tr. 469-503). Nội dung chuyên luận này thích hợp với độc giả Âu Mỹ, vì đề tài văn học cổ này không có gì mới lạ với những người Việt hay gốc Việt đã có căn bản Việt học.
Trong tuyển tập này, Bruce M. Lockhart ca tụng luận án tiến sĩ quốc gia của giáo sư Nguyễn Thế Anh đã đưa triều Nguyễn vào lịch sử sử học thế giới, vốn trước đó chưa được ai nghiên cứu tường tận. Ðó là nội dung của chuyên luận Vue d’ensemble sur l’étude des Nguyễn depuis 1954 (tr. 13-25).
Frédéric Mantienne, cựu môn sinh, ghi nhận các tài liệu in tại Pháp trong thế kỷ XVIII về nước Việt như tiếp bước giáo sư Nguyễn Thế Anh, một nhà thư tịch học, với chuyên luận Les sources imprimées sur le Dai Viet en France au XVIIIe siècle (tr. 63-112).
Trong tuyển tập này, Patrice Morlat, đồng nghiệp, bàn về Phạm Quỳnh với đề tài La place de Pham Quynh dans le projet colonial francais au Vietnam (tr. 253- 270). Ðộc giả có thể biết nhiều chi tiết lý thú về Phạm Quỳnh như tên đầy đủ là Phạm Huy Quỳnh, mồ côi mẹ lúc 9 tháng và mồ côi cha lúc 9 tuổi, lớn lên là do bà nuôi dưỡng…
Philippe Papin, cựu môn sinh và là người kế vị giáo sư Nguyễn Thế Anh tại trường EPHE, đã theo truyền thống Nguyễn Thế Anh, là căn cứ vào tài liệu đầu tay mà sử gia tìm được để tái tạo các sự kiện quá khứ. Chuyên luận của Philippe Papin Un temps pour payer, l’éternité pour se souvenir, premiers jalons d’une histoire des donations intéressées dans les campagnes vietnamiennes (tr. 113-141) căn cứ vào những văn bia để giải thích tâm thức của giới người Việt vô hậu, tức những người không có con cháu nối dõi tông đường. Sử gia Philippe Papin từng là Giám Ðốc EFEO tại Hà Nội trong thập niên 1995-2005.
Emmanuel Poisson, cựu môn sinh, giáo sư tại đại học Paris 7, đóng góp Les confins septentrionaux du Vietnam et leur administration (tr. 329- 339), tiếp bước giáo sư Nguyễn Thế Anh về vấn đề biên giới Việt-Hoa, đề tài mà hai thầy trò đều quan tâm.
Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp có chuyên luận Lí Văn Phức et sa découverte de la cité du Bengale (1830) tt. 143- 195. Tôi ngạc nhiên thấy tên Tạ Trọng Hiệp trong tuyển tập xuất bản năm 2008 này, vì giáo sư Tạ Trọng Hiệp đã qua đời từ năm 1996. Ðọc bài mới biết là đồng tác giả Claudine Salmon biết giáo sư Nguyễn Thế Anh, một đồng nghiệp của bà, đã tiếc công trình của hai người phải dở dang khi Tạ Trọng Hiệp mất, nên bà đã cố hoàn thành công việc để góp phần vào tuyển tập, nguyên văn bà viết: Monsieur Nguyễn Thế Anh, à qui nous avions parlé de cette traduction inachevée, ayant exprimé ses regrets de la voir ainsi abandonnée, nous avons décidé de la reprendre et de la mener jusqu’au bout. Ðó là bản dịch và chú giải sang Pháp văn tập Tây Hành Kiến Văn Kỉ Lược do Lí Văn Phức soạn sau chuyến đi sứ sang Bengal (tức Calcutta) năm 1830.
Masaya Shiraishi là một học giả Nhật chuyên về bang giao Nhật-Việt và về phong trào Ðông Du với Phan Bội Châu. Sử dụng tài liệu văn khố Nhật, Masaya Shiraishi bàn về Nan’yo Gakuin, tức Viện Ðông Hải do Nhật Bản thiết lập ở Sài Gòn năm 1942. Tựa đề The Nan’yo Gakuin: a Japanese institute in Saigon from 1942 to 1945 (tr. 295-314). Nhưng đọc hết bản chuyên luận, tôi biết tác giả Shiraishi hoặc vô tình hoặc cố ý tránh đề cập đến mục đích thực sự của sự thiết lập một học viện Nhật tại Sài Gòn. Hãy hình dung việc mở trường huấn luyện, đem học viên Nhật và ban giáo sư từ Nhật sang, chi phí do chính phủ Nhật cáng đáng… tất cả chỉ nhằm đào tạo người làm thương mại ở Việt Nam thôi sao? Có liên hệ gì không, khi năm 1942 học viện Nhật Bản này thành lập tại Việt Nam thì năm 1945 quân đội Nhật Bản đảo chánh Pháp làm chủ bán đảo Ðông Dương?!
Vĩnh Sính, giáo sư đại học Alberta, Canada, có Phan Châu Trinh and his concept of popular rights in Vietnam (tr. 423- 445). Thật không hiểu danh từ popular rights mà tác giả Vĩnh Sính sử dụng là nghĩa gì. Ðến cuối chuyên luận mới tìm thấy danh từ tiếng Việt, là dân quyền. Hóa ra tác giả gốc Việt lập cư ở Canada này cố ý tránh từ ngữ có thể làm trong nước không hài lòng, là civil rights, human rights mà tạo ra chữ mới popular rights không giống ai! Thật là sĩ khí rụt rè gà phải cáo!
Francois Souty, đồng nghiệp, giáo sư đại học La Rochelle, viết một đề tài riêng biệt về thuộc địa của Hoà Lan: Plantages, free trade and polderization: The dynamics of the economy in Dutch Guiana (Demerary, Essequibo, and Berbice) in the 18th century (1680-1789) (tr. 407-421). Đề tài này khác với những chuyên luận trong tuyển tập, nhưng đó chính là sự khai thác tài liệu đầu tay để làm lộ ra những sự kiện mới mẻ trong quá khứ theo truyền thống Nguyễn Thế Anh!
Keith W. Taylor đầy tự tin trong một đề tài đặc biệt Ðông Phương. Ðó là thi thơ, tức Shi/Thi in the South: A common sino-vietnamese poetic legacy (tr. 525-553). Nhưng đọc bài viết của một người Mỹ tán về ý nghĩa thơ Việt Nam với kết luận nối kết thơ Hồ Chí Minh thế kỷ XX, tức năm 1942-43 với nhà thơ sớm nhất của đất Giao Chỉ (?) là Lưu Hữu Phưong (Liao Youfeng) thế kỷ thứ IX, tức năm 815, tôi không khỏi… cảm phục sự liều lĩnh của một người Tây Phương tưởng mình đã len lỏi được vào tâm thức Ðông Phương!
Trinh Van Thao, giáo sư tại đại học Aix-Marseille, trực tiếp vinh danh đồng nghiệp họ Nguyễn qua việc tổng kết công trình nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thế Anh nhằm làm nổi bật sự đóng góp lớn lao và sâu sắc của sử gia họ Nguyễn vào lịch sử Ðông Á và Việt Nam.
Chuyên luận của Patrick Tuck, đồng nghiệp, giáo sư đại học Liverpool, là chi tiết về sự sống còn của các quốc gia Ðông Nam Á trước nạn đế quốc, trong trường hợp này là Thái Lan với hai đế quốc Anh và Pháp. Chính quyền Thái đã áp dụng một cách khôn khéo và uyển chuyển chính sách hợp tác với đế quốc Anh và cứng rắn với đế quốc Pháp để duy trì sự tự trị.
Léon Vandermeersch, giáo sư kỳ cựu của đại học Sorbonne về Ðông Phương học là thế hệ giáo sư trước Nguyễn Thế Anh tại Sorbonne, đóng góp bản dịch và chú giải một tài liệu chữ Hán về cuộc du hành của nhân vật có tên Zheng Gongying đến Việt Nam một cách bí mật trong hai tháng (từ 11.6 đến 11.8.1884).
Gábor Vargyas, đồng nghiệp, giáo sư đại học Pecs, Hung Gia Lợi, đóng góp bài viết về sắc tộc Bru, tức Vân Kiều qua đề tài Quiconque voulait s’imposer à nous, nous avons accepté son pouvoir (tr. 341-369). Ðây là một bài viết tương đối ngắn, nhưng đầy đủ chi tiết về sắc tộc Vân Kiều ở vùng Trường Sơn qua địa bàn sinh hoạt, dân số, ngôn ngữ, văn hoá, lịch sử… từ một chuyên viên.
Geoff Wade là chuyên viên nghiên cứu tại đại học Hong Kong và Singapore, lên tiếng khâm phục sự quảng bác của giáo sư Nguyễn Thế Anh về ngành nghiên cứu Chàm. Chuyên luận của tác giả chính là để tỏ lòng mến mộ giáo sư Nguyễn Thế Anh mà tác giả mệnh danh là một trong những chính nhân của thời đại, nguyên văn: one of the gentlemen of our age. Chuyên luận của Wade, tựa đề The Ming Shi account of Champa (tr. 41-61), là bản dịch và chú giải phần Chiêm Thành trong Minh Sử (Ming Shi). Ðây là một đóng góp rất mới mẻ trong ngành nghiên cứu Chàm, và sẽ là một tài liệu gốc cho mọi tham khảo sau này.
Danny Wong Tze-Ken, cựu môn sinh, giáo sư đại học Malaysia, có chuyên luận The Nguyen Lords and the English factory on Pulo Condore at the beginning of 18th century (tr. 371- 384). Chuyên luận giải thích bang giao quốc tế thời các chúa Nguyễn căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu đầu tay khác nhau theo truyền thống Nguyễn Thế Anh.
Insun Yu, đồng nghiệp, giáo sư đại học quốc gia Seoul, viết Myth and reality: The Confucian influence on Northern Vietnamese society during the Le dynasty (1428-1788) (tr. 505- 524). Giáo sư Insun Yu giải thích sự chuyển hướng của chính quyền trung ương thời Hậu Lê khi áp dụng hệ thống Khổng học vào chính quyền, thay thế hệ thống Phật học thời Lý Trần trước đó.
Ý nghĩa nhất của tuyển tập 541 trang này là trong Phần Giới Thiệu nơi đầu sách. Sử gia Mỹ Keith Weller Taylor, giáo sư đại học Cornell, chuyên về cổ sử Việt Nam với luận án The Birth of Vietnam (Berkeley, University of California Press, 1983, 399 tr.) đã thay mặt những sử gia quốc tế khác diễn tả tâm tư tình cảm của tất cả đối với vị giáo sư gốc Việt, nguyên văn nơi trang 11: It is with gratitude for the life and work of Nguyen The Anh that the essays in this volume are presented to him and in his honor, with the hope that, despite the imperfections of our endeavours, we may nonetheless hereby bear witness to the presence of a great scholar in our generation.
Tôi tạm dịch: Chính vì sự biết ơn về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thế Anh mà những chuyên luận trong bộ sách này xin được dâng tặng ông và vinh danh ông, với hy vọng rằng, mặc dù sự bất toàn trong những cố gắng của chúng tôi, chúng tôi dẫu sao cũng chứng kiến được sự hiện hữu của một vị học giả lớn trong thế hệ chúng tôi.
Trong lịch sử sử học Việt Nam từ xưa đến nay, chưa một nhà nghiên cứu nào được các sử gia thuộc nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới vinh danh với ngôn từ trang trọng và thành tâm đến vậy.
Tôi tự hỏi, giới nghiên cứu Sử người Việt ngày nay, tại hải ngoại cũng như trong nước, đã mấy ai biết đến tác phẩm Monde du Việt Nam. Vietnam World. Hommage à Nguyên Thê Anh là tác phẩm hơn 500 trang thế giới vinh danh một sử gia gốc Việt, và Parcours d’Un Historien du Viêt-Nam là tuyển tập những chuyên luận hơn 1,000 trang của ông?
Trần Anh Tuấn
Tháng 10.2025